Articles by "Nghị luận VH"

Blog Làm văn nghị luận hôm nay muốn nhắc tới một nhà thơ lớn với những trang thơ đậm chất cá nhân trong SGK Ngữ văn 12 - Chế Lan Viên. Là một nhà thơ lớn, thơ CLV đã đi qua và chiếm lĩnh cả ba đỉnh cao ở ba thời kỳ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam thế kỉ XX: thời kỳ Thơ mới lãng mạn, Thơ ca Kháng chiến và thời kỳ Đổi mới sau 1986. Ông được đánh giá là một nhà thơ có phong cách đặc sắc và nổi bật.

Những nét chính của phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua "Tiếng hát con tàu" - Blog Làm văn nghị luận

Phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên thể hiện ở 2 đặc điểm chủ yếu là tính trí tuệ, triết lý và khả năng sáng tạo hình ảnh.
Là một nhà thơ ưa triết lý, CLV thường có những phát hiện sâu sắc, mới mẻ và bất ngờ về đối tượng. Thơ ông lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ, con đường đến với người đọc của thơ CLV đi từ trí tuệ đến trái tim, bởi ông quan niệm "thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh". Tuy nhiên, trí tuệ mà không khô khan, trừu tượng; trí tuệ nhưng luôn gắn liền với cảm xúc, là thứ trí tuệ của trái tim.

Rất nhiều câu thơ trong "Tiếng hát con tàu" có hàm lượng trí tuệ cao, nhiều câu được đúc kết như những triết lý, quy luật. Có thể dẫn tới một vài ví dụ:

- Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.
- Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!
- Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

Tính triết lý, trí tuệ đi liền với khả năng sáng tạo hình ảnh. Có thể nói CLV cảm nhận và suy nghĩ về mọi vấn đề bằng hình ảnh và thế giới nghệ thuật của thơ ông là thế giới của vô số những hình ảnh phong phú. Vì thế có người nhận xét thơ CLV mang vẻ đẹp của một người đàn bà đẹp ưa trang sức và biết trang sức.
"Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh" - Blog Làm văn nghị luận

Trong bài thơ này có những hình ảnh tả thực, chân thực:


Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.
Có những hình ảnh đẹp đẽ, lãng mạn:
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc.

Có khi cả khổ thơ là những hình ảnh sóng đôi liên tiếp:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Và rất nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng, triết lý như Con tàu, Tây Bắc, vầng trăng, suối lớn mùa xuân...

Tóm lại:

Tính trí tuệ và khả năng sáng tạo hình ảnh luôn gắn liền với nhau tạo nên một vẻ đẹp riêng của thơ CLV. Nhờ hình ảnh mà trí tuệ không khô khan, trừu tượng; nhờ trí tuệ mà hình ảnh trở nên lấp lánh, đa nghĩa, lắng đọng và ám ảnh.

Tiếng hát con tàu của nhà thơ Chế Lan Viên là "khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của mình ở đời sống của nhân dân và đất nước". - Cùng Blog Làm văn nghị luận làm rõ ý kiến trên qua bài viết này nhé.

Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên - Blog Làm văn nghị luận

"Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của chúng ta trong thế kỉ XX, một nhà hơ của đất nước. Suốt đời anh đã sống cho đất nước, cho thơ". (Nguyễn Văn Hạnh)

Có thể nói chính "ánh sáng và phù sa" của cuộc đời mới đã gột rửa hết những tư tưởng và cảm xúc siêu hình cũ, phá tung sự chật chội của cái lồng cá nhân để nhà thơ dang cánh bay thẳng vào bầu trời nhân dân cao rộng, dùng "ánh sáng của lí tưởng làm vũ khí, phù sa của cuộc sống mới làm chất ngọt nuôi thơ". (Vũ Tuấn Anh)

"Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc.
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương".
Chế Lan Viên đã dùng những hình ảnh thể hiện quy luật ngàn đời rất gần gũi nhưng lại vô cùng độc đáo và mới mẻ. Vị ngọt của tình yêu đôi lứa ví như cái rét ngọt của lúc đông về, như "cánh kiến hoa vàng", như "chim rừng lông trở biếc" mỗi xuân về. Tất ca nỗi nhớ ấy được khái quát lên thành tình yêu quê hương, đất nước. Chế Lan Viên đã rút ra một triết lí giản dị mà sâu xa, đó là sự hòa quyện giữa cái "tôi" với cái "ta", giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu của con người, yêu quê hương, Tổ quốc:
"Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương"
Và:
"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn"
Đất là nơi ta đến và đi, nơi ta sinh sống, làm nhà, trồng rau, cày ruộng,... Nó quan trọng, gần gũi và gắn bó với con người đến nỗi "khi ta ở", ta dường như quên mất sự hiện diện của nó, đến "khi ta đi", ta mới chợt nhớ đến nao lòng. Chính nỗi nhớ tha thiết ấy cùng với tình yêu là chất xúc tác diệu kì gắn kết cái riêng với cái chung, cái xa lạ thành gần gũi, biến những gì nhỏ bé thành lớn lao, cao cả... Phải chăng, chính nhờ lẽ đó mà tiếng hát nhớ thương kia đã thức dậy trong lòng ta tình yêu đất nước?
Con tàu tâm tường ấy đi theo lời vẫy gọi, mời gọi tha thiết của cuộc đời để rồi vun vút lao đi trong niềm vui sướng, yêu thương "Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương", bởi "Tình yêu là đất lạ hóa quê hương". Con tàu đấy đang "đói những vành trăng", đang giục giã "gọi anh đi", khi chất chứa bao nỗi niềm, khát vọng "Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?"; khi lại đầy mơ mộng, lãng mạn "Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng"... Tất cả, tất cả làm nên con tàu của một hồn thơ hối hả, náo nức, khát khao được giao cảm, hòa mình vào "suối lớn mùa xuân" của đất nước, nhân dân.
Con tàu tâm tưởng của nhà thơ như đang xuyên hiện tại để trở về quá khứ, đem theo đầy nặng những toa nhớ, toa thương về cảnh vật và con người Tây Bắc.

Nét đặc sắc trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm ở đoạn trích "Đất Nước" (phần đầu chương V của trường ca) là những vẻ đẹp của đất nước được phát hiện ở chiều sâu, trên nhiều bình diện, tất cả được soi chiếu bởi tư tưởng chủ đạo: "Đất Nước của Nhân dân".


Trường ca "Mặt đường khát vọng" được tác giả Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam, về non sông đất nước và sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc chiến đấu chống Mĩ xâm lược. Nét đặc sắc trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm ở đoạn trích "Đất Nước" (phần đầu chương V của trường ca) là những vẻ đẹp của đất nước được phát hiện ở chiều sâu, trên nhiều bình diện, tất cả được soi chiếu bởi tư tưởng chủ đâọ: "Đất Nước của Nhân dân".

Đoạn thơ thể hiện những xúc cảm và suy tưởng về đất nước dưới dạng một cuộc trò chuyện tâm tình. Bài thơ khai triển theo lối cảm xúc phóng túng, tự do như một thứ tùy bút bằng thơ, nhưng thực ra vẫn có tứ với một hệ thống lập luận khá rõ. Tác giả tập trung thể hệ tư tưởng "Đất Nước của Nhân dân" trên ba bình diện chủ yếu:

- Trong chiều dài thời gian - lịch sử.
- Trong chiều rộng không gian - lãnh thổ, đại lí.
- Trong chiều sâu văn hóa - phong tục, lối sống, tâm hồn và tính cách dân tộc.
=> Ba phương diện được thể hiện trong sự gắn bó thống nhất.

1. Không gian địa lí của Đất Nước là biên giới lãnh thổ, là núi sông, rừng biển lung linh hùng vĩ.

Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Không gian của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Không gian cộng đồng:
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
hay là niềm tự hào về nòi giống rồng tiên:
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Sự hóa thân của Đất Nước vào cảnh vật thiên nhiên muôn đời:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
[...]
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...
Những địa danh mang theo hồn người, hồn dân tộc: núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên, "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm"... => truyền thống tốt đẹp thấm nhuần trong những địa danh trải dài từ bắc chí nam.

2. Thời gian - lịch sử:

Huyền thoại Rồng Tiên, câu thơ sâu lắng suy tư, thiêng liêng hướng về nguồn cội:
Lạc Long Quan và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Mạch nguồn chảy từ quá khứ đến tương lai với sợi dây huyết thống bền chặt và mạnh mẽ:
Những ai đã khuất núi
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Đánh thức tình cảm cội nguồn trong đáy tâm linh một cánh thành kính, ngưỡng vọng thiêng liêng:
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
Thổi vào thế hệ sau ngọn lửa, tiếp nối truyền thống muôn đời:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Nhắc đến nền văn hóa mấy ngàn năm lịch sử, tác giả không nhắc đến những triều đại mà nhấn mạnh đến muôn vàn những con người bình dị, vô danh:
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
=> Người chủ chân chính: Nhân dân - Cảm quan lịch sử mới mẻ về vai trò của nhân dân.

3. Đi dọc thời gian, NKĐ còn chuyển cái nhìn từ vai trò lịch sử sang vai trò văn hóa của nhân dân:

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
[...]
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Hình ảnh nhân dân, con người VN bao thế hệ hiện ra thân thương qua dáng hình của mẹ, của bà, qua câu chuyện trầu cau với tình nghĩa vợ chồng sắt son, qua sự tích Thánh Gióng như khúc anh hùng ca hùng tráng đầy tự hào, nghĩa tình xóm làng.
Chất liệu ca dao như một sự đồng điệu, gặp gỡ trong tâm hồn giữa ông cha và con cháu đời sau:
Dạy anh biết "yêu em từ thuở trong nôi"
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.

4. Đánh giá:

Ba phương diện: địa lí, lịch sử và văn hóa được thể hiện một cách thống nhất và sâu sắc. "Đất Nước là của Nhân dân" là tư tưởng cốt lõi, là hệ quy chiếu cho mọi cảm xúc, suy tư.
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại.

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget